Truyện Ngắn: Thượng đế an bài

Back Next







Thượng Đế An Bài
Hoàng Long Hải



gởi Diệm, bạn cũ.


Vợ tôi sinh đứa con thứ hai, cũng là gái, vì phải giải phẩu mà qua đời. Đó không những là nỗi đau đớn lớn lao trong đời tôi mà còn là một khó khăn to lớn tôi chưa từng gặp. Tôi lại còn trẻ, chưa tới 30 tuổi. Với hai đứa con dại, một đứa mới sinh chưa được 24 giờ đồng hồ đã mồ côi mẹ, và chị nó, hơn nó hai tuổi, tôi biết nuôi con ra làm sao?! Người có thể nhờ cậy được: Bà nội, bà ngoại, cả hai đều qui tiên. Cô dì thì ai cũng đã lập gia đình và ở xa. Ba tôi, lúc đó đã về hưu, sống ở quê, đành bỏ xứ mà vô Saigon ở với tôi, phụ tôi chăm sóc hai đứa nhỏ. Bây giờ không phải là cảnh gà trống nuôi con mà hai con gà trống, một già một trẻ, nuôi hai con gà con. Cũng may, có bà hàng xóm nhà khá giàu, làm nghề cho vay, chơi hụi nên thường ở nhà, ngày ba bận, bà qua chăm sóc cho đứa mới sanh. Sữa mã, tắm rửa, bà thí công mà lo cho nó, để kiếm chút đức cho con bà, như lời bà nói.


Lúc này tôi đang bị động viên, nhờ tốt nghiệp Đại Học Sư Phạm, ban Anh Văn, và nhờ thế lực của anh tôi, bác sĩ riêng của một cơ quan tình báo, tôi được biệt phái về làm thông dịch viên cho cơ quan này. Cũng vì công việc, tôi thường tới lui tòa Đại Sứ Mỹ và quen một cô gái Mỹ làm việc tại đây. Dĩ nhiên, cô ta trẻ và đẹp, dù không nghiêng nước nghiêng thành. Công việc buộc chúng tôi tiếp xúc với nhau nhiều lần trong tuần nên lần hồi chúng tôi trở thành bạn. Khi vợ tôi còn sống, cô ta thường đến nhà chơi với vợ chồng tôi. Kể từ khi tôi góa vợ, cô ta đến nhà tôi thường hơn. Thực tình, cô ta thương hai đứa con nhỏ của tôi mồ côi mẹ. Đàn bà, con gái, nói chung, đều thương trẻ con, đặc biệt với hoàn cảnh đau đớn của các con tôi. Các con tôi được cô ta cho nhiều đồ chơi và quần áo, có món cô ta mua từ Mỹ gởi qua.


Quả thật từ khi vợ chết, không còn ràng buộc hôn nhân nên tôi và cô ta đi chơi với nhau nhiều hơn, thường đi xem Ciné. Rạp chúng tôi chọn là Mini-Rex. Rạp nhỏ, dễ thương, ít khách, ít náo động xô bồ, rất thích hợp cho các cặp uyên ương, mặc dù cô ta với tôi, lúc ban đầu, chẳng bồ bịch gì với nhau cả. Mỗi tuần, hễ có phim mới là chúng tôi đi xem, không cần biết phim hay hay dở. Xem Ciné chỉ là cái cớ để đi chơi với nhau.


Một lần, xem phim nửa chừng, cô ta hỏi tôi:


- “Anh có thường hôn vợ anh không?”


- “Dĩ nhiên là có” - Tôi cười trả lời. “Như mọi người trên đời này, yêu nhau thì hôn nhau.”


Cô ta im lặng, khoảng 10 phút, không nói gì. Tôi linh cảm có điều gì đây, bất thường. Một lúc, tôi hỏi:


- “Ở Mỹ, khi nào thì người đàn ông được hôn người đàn bà?”


- “Khi người đó yêu người đàn bà.” - Cô ta trả lời.


- “Nếu người đàn bà không bằng lòng thì người đàn ông có bị ăn tát tai không?”


- “Sao không?” - Cô ta cười khúc khích, cố nén thật nhỏ.- “Có khi còn bị ra tòa nữa, dám xúc phạm đến thân thể người khác.”


- “Tôi không sợ bị ăn tát tai. Chắc là cô đánh tôi không đau lắm đâu. Nhưng tôi sợ bị đưa ra tòa, xấu hổ. Đành thôi vậy.” - Tôi vừa nói, vừa cười.


- “Chắc chắn là anh không bị gì hết, còn được hôn lại nữa.” - Cô ta nhìn vào mặt tôi, nói, vẻ nhí nhảnh. - Sau đó, lần đầu tiên, chúng tôi hôn nhau.


Tôi sinh ra ở một làng quê miền Trung, lớn lên ở tỉnh nhỏ, học đại học Huế, ra đi dạy lại cũng ở tỉnh nhỏ, bị động viên mới vô Saigon, ở được mấy năm, chưa được ỏvăn minhõ lắm, nên tôi không biết cách hôn của đời bây giờ. Tôi hôn giống như mẹ tôi hôn tôi ngày xưa vậy, hít nhiều hơn là hôn. Sau nhiều lần hôn nhau, cô ta cười hỏi tôi. Tôi nói:


- “Người Việt Nam thường nói hôn hít. Hít không phải là tiếng đệm mà là một động từ. Người mẹ hôn con và hít cái hơi da thịt từ đứa con bụ sữa, đứa con mà người mẹ rất thương. Còn để môi vào má dứa bé mà đánh chụt một cái, chẳng có nghĩa gì hết!”


Cô ta cười lối giải thích của tôi, tuy nhiên vẫn tán đồng cách hôn của người Việt, nó có vẽ đậm đà.


Một hôm, cô ta hỏi tôi:


- “Nếu sau này tôi cưới anh, anh có thấy trở ngại gì không, nhất là cho các con anh. Tôi thấy anh thương con lắm.”


- “Cô không cưới tôi.” - Tôi cười, nói. – “Với người Việt Nam, đàn ông cưới vợ, và lo hết đám cưới, không có chuyện đàn bà cưới chồng. Bên Mỹ đàn bà mới cưới chồng, tôi thì lại không nghĩ một ngày nào đó, sẽ qua ở bên đó.”


Cô ta nói:


- “Anh không nghĩ là sẽ có một sự kiện đặc biệt nào đó, anh sẽ ở Mỹ?”


- “Không, dù là một sự kiện đặc biệt nào đó, tôi cũng không bỏ quê hương. Người Việt Nam ít khi bỏ quê hương mà đi. Nếu được du học, tôi sẽ đi, học xong, tôi lại về. Giả tỉ như tôi có cưới cô thì tôi sẽ không về Mỹ theo vợ mà cô phải ở lại đây với chồng. Người đàn bà Việt Nam lấy chồng là phải theo chồng. Họ có câu ca dao: “Lấy chồng thì phải theo chồng, chồng đi hang rắn hang rồng cũng theo”. Cô ở đây, biết rồi đấy, đâu có phải là hang rắn, hang rồng. Hang rắn Cộng sản thì ... chưa tới.”


Cô ta cười vui:


- “Nếu chồng tôi yêu tôi lúc nào cũng như lúc nào thì dù tôi có ở đây suốt đời cũng chẳng sao!”


Một hôm tôi vào văn phòng trung tá T., trưởng phòng của tôi để trình hồ sơ, ông ta hỏi:


- “Anh cặp bồ với con nhỏ Mỹ đó lâu chưa? Chắc anh chịu nó lắm. Về việc ấy, tụi nó nghề lắm. Khi nào chán, anh bàn giao lại tôi.”


Tôi thấy chạm tự ái, thấy bừng bừng ở mặt, tôi trả lời có vẻ gay gắt:


- “Chúng tôi chỉ là bạn và biết tôn trọng nhau. Có gì, chúng tôi cũng chờ ngày cưới.”


Ông ta thấy mắc cở nhưng cũng cố nói gượng, vẽ ngạo nghễ:


- “Anh chịu lấy con đầm ấy làm vợ sao?! Tôi thì Mỹ hay Việt chơi tuốt, chơi đâu bỏ đó.”


Anh tôi biết việc này. Vài ngày sau, ông gọi tôi lên hỏi:


- “Em tính lấy vợ Mỹ thiệt không?”


- “Em chưa tính kỹ, nhưng nếu tiến tới được thì em sẽ tiến. Anh thấy không nên à?” Tôi hỏi.


- “Sao lại không nên. Căn bản là tình yêu chân thật và chung thủy. Người Mỹ họ cũng có đức tính đó như người mình. Tìm được người như thế thì quí lắm chớ sao!” Anh tôi trả lời.


- “Em thấy cô ta nhân hậu, biết thương người, rất thương người là đằng khác, có lẽ nhờ cô ta ngoan đạo.”


- “Bác ái Công Giáo rất vĩ đại. Em nên nhớ là biết bao nhiêu người đau khổ trên thế gian này, nghèo đói, lao cùi..., như Hàn Mặc Tử đấy, nhờ Bác ái Công Giáo mà xoa dịu được nỗi đau. Theo anh nghĩ, cô ta ngoan đạo là thấm nhuần lòng Bác ái ấy. Hình như gia đình cô ta một giáo phái khắc kỷ nào đó phải không?” Anh tôi hỏi.


- “Em không chú ý lắm, hình như là Quaker.” Rồi tôi than phiền: “Trung tá T... ăn nói rất kỳ cục.”


- “Em đừng để ý đến họ, nhất là không nên bắt chước họ. Nói như cụ Diệm, hạ bộ nằm trên trán. Đánh giặc thì thua cả thằng binh nhì của Napoléon mà ăn chơi thì muốn cho bằng Napoléon, cũng đòi Joséphine, Marie Antoinette.” Nói xong, anh tôi thở dài. Một lúc, anh tôi nói tiếp: “Cố vấn Mỹ cho anh biết cô ta thuộc một vọng tộc bên ấy, gốc Ái Nhĩ Lan, gia đình rất nề nếp. Nếu em lấy cô ta thì tốt thôi.”


Cô ta biết cả hai việc đó. Một hôm, xem gần cuối phim, cô ta đề nghị:


- “Anh đi chơi với em đến khuya được không, cỡ sau 10 giờ đêm rồi về, em có việc muốn hỏi anh.”


- “Được thì được, nhưng anh không báo trước, xem Ciné xong, anh phải tạt qua nhà một chút, sợ ba anh và các con anh mong.” -Tôi trả lời.


Lâu lâu chúng tôi vẫn đi chơi khuya với nhau, hoặc đi Queen Bee, Đêm Màu Hồng. Nếu có ăn tối thì chúng tôi đi Bồng Lai, về sớm hơn một chút. Có khi đi chơi về khuya, chúng tôi còn ghé Trần Quí Cáp ăn cháo trắng với cá kho khô. Những món này, ban đầu cô ta không quen, tập riết rồi, cô ta lại thích. Có khi nghe nhạc Việt Nam, tôi dịch lời hát cho cô ta hiểu. Hiểu lời, cô ta thấy hay. Tôi nhớ một lần, ở Queen Bee, nghe Thái Thanh hát Beau Danube Blue, lời Việt, cô ta khen nức nở. Cô ta nói không thua gì ca sĩ Mỹ. Vã lại ở Mỹ, muốn nghe nhạc sống như thế này, giá vé cao lắm. Cũng đêm ấy, Thái Thanh hát bài “Kỹ Vật Cho Em”. Vừa nghe hát vừa nghe tôi dịch lời thơ của Linh Phương, cô ta nắm chặt cánh tay tôi, nói nhỏ: “Sao đau xót quá vậy anh? Chỉ có những người sinh ra trong chiến tranh, lớn lên trong chiến tranh, đi trong chiến tranh mới có thể có những đau khổ, cảm nhận những đau khổ và viết được những lời thơ như vậy, những điệu hát như vậy, nghe như tiếng khóc từ tận đáy trái tim! Em sợ một ngày nào đó, anh phải ra trận.”


Tôi chỉ cười.


Đêm ấy, khác với thường lệ, cô ta và tôi vào Continental, kiếm một góc thật vắng để nói chuyện. Vừa ngồi yên chỗ, chưa gọi món ăn, cô ta đã hỏi:


- “Anh muốn cưới em thật không?”


Cô ta đổi cách nói, giống như người Việt Nam mà tôi đã giải thích trước kia, đàn ông cưới đàn bà. Tôi cười:


- “Sao không? Tại sao em lại hỏi như vậy? Từ trước đến giờ, gặp nhau biết bao nhiêu lần, em có đặt vấn đề này đâu?”


- “Tại vì... tại vì...Cố vấn John cho em biết những việc xảy ra giữa trung tá T. , bác sĩ V. , và anh.” Cô ta trả lời.


- “Anh nghĩ là yêu nhau thì phải đi đến hôn nhân. Không thì yêu nhau làm gì? Nhưng anh vẫn còn thắc mắc, tại sao em lại muốn lấy chồng Việt Nam. Em yêu anh hay thương hại anh góa vợ?” - Tôi hỏi.


- “Tất cả, em yêu tất cả cái gì nơi anh. Và anh nên nhớ Mỹ là một quốc gia đa chủng. Người chủng tộc này kết hôn với người chủng tộc kia là chuyện bình thường. Em có lấy chồng Việt Nam thì cũng như các bạn em lấy chồng không phải gốc Ái Nhĩ Lan vậy. Tất cả đều có một cha chung trên trời. Điều quan trọng, đối với em và gia đình là tư cách, phẩm giá, và cả... trình độ kiến thức nữa. Còn địa vị xã hội, mỗi người phải tự tạo cho mình. Ở Mỹ, về lãnh vực này, luật pháp cấm kỳ thị màu da...”


- “Nhưng em không nghĩ là em phải ở lại đây với chồng sao? Với những người chung quanh, khác phong tục tập quán, liệu em có quen được không?” - Tôi nói.


- “Em đã suy nghĩ, đã so sánh, và... thấy nhiều khó khăn. Người Việt Nam nặng chủ nghĩa gia tộc, người Tây phương, số đông theo chủ nghĩa cá nhân. Hai cái ấy rất đối chọi. Rất may, em sinh trưởng trong một gia đình còn giữ truyền thống cũ, lấy sự chia xẻ hạnh phúc và hy sinh làm điều răn. Có lẽ đặc tính tốt đó làm cho em dễ sống ở xã hội bên này.” - Cô ta giải thích.


Tôi ngạc nhiên hỏi:


- “Em rành Việt Nam còn hơn cả người Việt Nam?”


- “Không dám nhận lời khen của anh. Tuy nhiên, em phải theo học một năm về Việt Nam trước khi đến nhận công việc ở đây.” - Cô ta trả lời. Rồi cô ta lại cười hỏi: “Bao giờ thì anh cưới em?”


Tôi trầm ngâm một chút, nói:


- “Có hai điều anh đang lo. Thứ nhất, để cho đứa bé sinh sau hơi lớn một chút, anh và em bớt vướng bận nó. Thứ hai, dù là cưới vợ lần thứ hai, cưới em, anh không thể làm lễ cưới qua loa được. Bà con nội ngoại anh đông lắm mà lại ở xa, anh muốn mời họ về dự và xem mặt cô dâu... Mỹ.”


Cô ta cười vui nhưng không nói gì. Cô ta biết rằng đám cưới này, theo phong tục Việt Nam, tôi phải lo hết mà tôi thì rất tự ái, không bao giờ muốn đụng đến đồng tiền của cô ta, mặc dù tiền lương cô ta gấp mười lần hơn tiền lương một người như tôi. Ngay cả những lần đi ăn, đi chơi, tôi không chịu để cô ta bao tôi bao giờ.





&




Ngày 10 tháng 3 năm 1975, mất Ban Mê Thuột. Hôm sau, khi cô ta và tôi có nhiệm vụ trao đổi và kiểm chứng lại tình hình thật chắc chắn, cô ta nói với tôi:


- “Em nghĩ là tình hình sẽ rất nghiêm trọng, không biết tương lai chúng mình sẽ ra sao!”


Tôi thở dài, mắt nhìn đăm đăm lên trần nhà, không nói một lời. Một lúc lâu, tôi đứng dậy chào cô ta và ra về.


Tình hình Miền Nam sụp đổ mau lẹ và nghiêm trọng. Tôi lo lắng vô cùng, nhiều khi đâm ra hốt hoảng. Công việc lại dồn dập, bận rộn, nhiều đêm gần như thức trắng. Bên phía cô ta, công việc cũng bề bộn vì những biến cố dồn dập xảy ra trên chiến trường. Chúng tôi không có thì giờ để gặp nhau chứ đừng nói là đi chơi như trước. Tuy nhiên, đến khi mất Đà-Nẵng, cô ta hốt hoảng gọi điện thoại cho tôi, nói gấp:


- “Anh phải ngưng việc, gặp em gấp. Mười phút nữa em đến đón.”


Mười phút sau, chúng tôi ngồi chung xe. Vừa cho xe chạy, cô ta vừa nói:


- “Có lẽ em phải rời Việt Nam sớm. Boss đã tiết lộ với em không chính thức như vậy. Em vô cùng lo lắng và bối rối. Em muốn anh và các con anh rời Việt Nam cùng một lần với em.”


Tôi hốt hoảng:


- “Đâu được! Anh không thể đào ngũ, còn nếu xin phép thì chẳng ai cho. Vã lại, còn ba anh nữa. Để ông lại cho ai?”


- “Đem ông đi theo luôn! Qua Mỹ, nếu ông không muốn ở viện dưỡng lão, mình nuôi ông, không có gì khó khăn đâu. Ở Mỹ. nhiều gia đình vẫn nuôi cha mẹ già vậy.” - Cô ta đáp nhanh, dứt khoát.


- “Anh còn trẻ, còn chưa muốn rời bỏ quê hương huống gì ông đã già. Đối với ông, có lẽ sinh ra ở đâu thì chết chôn ở đó. Vã lại, anh không thể bỏ cơ quan mà đi. Anh không muốn mang tiếng là kẻ đào ngủ, điều này đâu có hay gì danh dự của anh.” - Tôi nói.


- “Em sẽ xin với boss. Tòa đại sứ Mỹ sẽ can thiệp cho anh rời Việt Nam, không phải đào ngũ. Còn ba anh, anh cố gắng thuyết phục ông ra đi cùng với chúng ta.”


Tôi hứa với cô ta là tôi sẽ thuyết phục ba tôi nhưng gần mười ngày trời, tôi chẳng dám nói với ba tôi một lời. Tôi nghĩ khó có hy vọng ba tôi đồng ý. Dòng họ tôi không giàu có, chỉ khá giả một chút nhưng nền nếp Nho phong thì giữ gìn rất kỹ, mấy đời nay, ôm lấy mảnh đất nghèo cày lên sỏi đá mà sống. Anh em tôi, đi học được cũng là nhờ mẹ tôi khéo chắt bóp và chúng tôi, mặc dầu còn đi học, cũng biết tự lo cho mình, khổ công cầu học. Nói với ba tôi việc bỏ nước ra đi, theo tôi nghĩ cũng giống như nói nước từ biển chảy ngược lên nguồn vậy. Vã lại, Cọng Sản là ai? Chú út tôi đi kháng chiến rồi tập kết năm 1954, bây giờ cũng là kỹ sư, đang ở Hà-Nội. Nếu Cọng Sản chiếm miền Nam, chú ấy, người mà ba tôi rất thương, rất nhớ, sẽ về. Ông có ý trông chờ ngày anh em gặp nhau, không cần biết tới một ranh giới chính trị nào hết, hai anh em sẽ ôm nhau mà khóc vì mừng. Ông nhìn người Cộng Sản qua hình ảnh người em trai của ông vậy.


Luz, tên cô ta, vì không có thì giờ gặp nhau nên gọi điện cho tôi mỗi ngày vài bận, nhắc tôi thuyết phục ba tôi. Cô ta nôn nóng, lo sợ cho tôi và trông mong kết quả thuyết phục nơi tôi lắm. Đến khi tôi nói chuyện được với ba tôi thì Phnom-Pênh đã mất. Ba tôi nói:


- “Thằng Miên Sirik Matak còn nói được câu “Tôi sinh ra ở Campuchia thì tôi chết ở Campuchia” huống gì là ba. Con muốn đi thì con cứ đi, ba nhất quyết ở lại.”


Khi tôi nói đến Luz và tắm máu, ba tôi cười mỉa:


- “Sirik Matak có nói “Điều tôi ân hận nhất là tôi đã tin vào người Mỹ.” Một ông đại sứ một cường quốc, một ông tổng thống một đại cường quốc nói còn chưa tin được thì làm sao mình có thể tin một con nhỏ như con Lu. Ở đây, cam kết có giấy trắng mực đen còn coi như tờ giấy lộn, đem con bỏ chợ, huống chi qua tới bên ấy, họ bỏ mình mấy lúc. Có muốn về cũng không có đường về.”


Tôi không dám nói sự thực với cô ta. Tôi nói dối là ba tôi đang bệnh, chưa nói được.


Đêm 21 tháng Tư, đêm tổng thống Thiệu từ chức, hai giờ sáng, cô ta đến nhà đánh thức tôi dậy, hốt hoảng:


- “Đúng ra là em phải đi Bangkok cả tuần lễ trước, nhưng em xin với boss, cho em nấn ná ở lại là để chờ anh. Bây giờ boss đã dứt khoát, ngày mai em phải rời Saigon, nội trong buổi sáng. Em muốn anh quyết định rời Việt Nam, sớm ngày nào tốt ngày ấy. Boss đã hứa là nếu anh muốn đi, bất cứ lúc nào, boss sẽ lo cho anh đi, cả con anh, cả ba anh, đi hết. Anh trả lời dứt khoát đi. Bao giờ thì anh đi, em không chờ được.”


Tôi ngồi thừ người, nhìn lên trần nhà, nhìn đâu đâu, nhìn vào cô ta mà như không thấy cô ta ngồi đó. Tôi thở đều đặn, không thở dài và không nói gì hết. Trí tôi trống rỗng một cách kỳ lạ, không suy nghĩ gì hết hay là tôi không thể tập trung trí tôi để nghĩ tới một điều gì đó, dù là một điều rất nhỏ, rất tầm thường. Luz ngồi trước mặt tôi, nôn nóng, mình luôn động đậy, như không thể ngồi yên trên ghế. Lâu lắm, cô ta hối thúc:


- “Quyết định đi anh. Quyết định đi. Bao giờ anh đi?”


Tôi vẫn không trả lời. Cô ta nói:


- “Nếu ở lại Việt Nam được thì em đã ở lại với anh. Anh biết rất rõ, Cộng Sản Hà-Nội coi người Mỹ là kẻ thù, kẻ thù của họ, kẻ thù của Liên Xô. Vã lại, vì công việc của em, em sẽ bị bắt rất sớm, ngay khi họ vào đây. Họ sẽ giết em, sẽ cho em ở tù lâu dài. Nếu chính phủ Mỹ có can thiệp, em cũng lại bị trục xuất thôi, không thể ở với anh được một ngày...”


Nói xong câu đó, nước mắt cô ta bắt đầu chảy xuống hai má thành hai dòng nhỏ. Tôi vội nắm lấy hai bàn tay Luz, bóp chặt và đau khổ:


- “Em thông cảm cho anh, thông cảm cho anh. Anh không thể... đành thôi, Luz ạ...”


Tôi chưa nói hết câu thì cô ta đã òa khóc, đứng phắt dậy, bước ra cửa. Khi tôi đứng dậy thì cô ta đã chạy nhanh ra sân. Tôi nói to:


- “Khoan, Luz, chờ anh. Đường khuya vắng, nguy hiểm ...”


Ra tới đầu ngõ, cô ta dừng lại chờ tôi. Cô ta ôm lấy tôi. Tôi cũng ôm Luz y như vậy. Đó là lần đầu tiên chúng tôi ôm nhau. Cô ta gục đầu lên vai tôi, khóc nức nở. Tơi ngửi thấy mùi dầu thơm rất nhẹ từ tóc cô ta tỏa ra man mác. Mình cô ta run rẩy vì tiếng khóc, tiếng nấc. Tôi nói:


- “Anh yêu em vô cùng, yêu vô cùng, nhưng em hãy thông cảm cho anh, anh không thể đi cùng em.”


Một lúc lâu, cô ta nói, giọng đầy nước mắt:


- “Em sợ lắm, sợ lắm anh yêu ơi! Em sợ cho anh. Anh sẽ bị bắt ở tù, bị bắt vào trại tập trung, trại lao động ... Anh sẽ vô cùng cực khổ.”


Chúng tôi đứng ôm nhau như thế thật lâu. Cuối cùng, Luz nói, vẫn còn trong tiếng khóc:


- “Anh vào đi. Đừng lo. Boss cho hai người hộ vệ em, ở ngoài xe. Thôi! Đành không lấy được nhau vậy! “Thượng đế đã an bài” số phận chúng ta. Vĩnh biệt anh!”


Và cô ta đi nhanh như người chạy trốn./




Worcester, Thaksgiving 1995




Back Next