Truyện Ngắn: Trợ lý và thằng tù con

Back Next
Buổi chiều có lệnh hủy bỏ giờ đi dạo thường lệ trong sân, tất cả sáu đội tù đều bị lùa hết vào các sam, điểm danh và khóa cửa. Có tin một đợt tù, được gọi văn vẻ là đợt tiếp quân mới, sẽ đến. Việc chuyển tù thật ra không xa lạ gì ở các trại giam nhưng nó cũng khuấy động được một chút không khí háo hức ở các trại giam xa xôi, khuất lấp và lạc lõng bên bờ sông lớn, giữa rừng đước bạt ngàn này. Toàn bộ số tù nam nữ đều như chen nhau tập trung trên các dãy sạp hai tầng sát chiếc cửa sổ độc nhất có song sắt lớn của mỗi sam, cố đưa tay và áp mặt sát ra ngoài để thở và nhìn, quang cảnh chạo rạo như một bầy thú trong chiếc chuồng chật.
Trại giam gồm sáu dãy nhà dài cất thành hình chữ U cùng quay mặt vào một sân tập họp rộng, kéo dài ra gần sát bờ nước sông cái, ba mặt còn lại được vây bọc bởi những con rạch lớn, nửa thiên nhiên, nửa nhân tạo, biến trại giam thành một cù lao bốn bề nước phủ, chỉ có một chiếc cầu nhỏ dẫn ra bờ đê đưa đến khu lao động.
Trại được xây dựng trong nhiều năm từ một khoảng trũng lầy lội ngập nước, những người tù đầu tiên đến đây đã phải ngủ ngoài trời dựa vào những gốc đước cao, phải di chuyển liên tục tránh con nước lên xuống và phải chật vật chống chọi với bầy muỗi rừng đông đặc, ẩn mình trong lá cỏ đợi nhá nhem tối là túa ra bu kín lấy con người. Công việc đầu tiên là lấp bãi sình làm nền xây nhà ở. Người ta dùng những chiếc leng bén xắn sâu xuống đất, cạy những tảng đất lớn, dẻo cứng mang đến đắp vào khu vực được chỉ định. Đất nặng chìm sâu vào sình, đắp bao nhiêu mất hút bấy nhiêu, tưởng như sình đã nuốt hết đất vào lòng, nhưng dần dà, bãi sình đã có chân, đất chịu lại, và những nền nhà, bãi sân được thành hình. Chín ngàn ngày công đã đổ ra cho công việc khó khăn này và trại được dựng lên, được rầm rộ khánh thành. Không ai chú ý trên gò đất đàng sau dãy trại, lẫn bên mé rừng đước và cây mắm dại, đã có mười một nấm mồ lạnh lẽo, vô danh.
*
* *
Có mấy tiếng súng bắn rời rạc theo một nhịp riêng, ám hiệu thông báo có tàu sắp cập bến. Đám vệ binh và cán sinh ôm súng và gậy gộc chạy túa ra bờ sông. Nước ròng sát làm lòng sông hẹp lại, chiếc ghe chở tù giảm tốc độ, quẹo một vòng cua ngược hướng nước trước khi đâm thẳng mũi vào bãi sình, thả neo.
Trưởng phòng tổ chức kiêm trưởng ban tiếp nhận cởi vội chiếc quần dài, vắt chéo qua vai, hấp tấp ôm tập hồ sơ tuột xuống nước, lội bì bõm từng bước vào bờ. Trên ghe, đám công an áp tải đứng hết trên be, chĩa súng vào đám tù đang bị buộc ngồi chen cứng sát đáy ghe xăm xắp nước. Trại trưởng ra mép bờ đất đưa tay kéo người cộng sự của mình lên bờ. Trưởng phòng tổ chức vui vẻ lên tiếng:
- Báo cáo anh, trại ta nhận thêm được một trăm hai mươi quân, tôi đã chọn kỹ, toàn đám khỏe mạnh có thể làm việc tốt.
Trại trưởng mỉm cười, gã chỉ thị cho đội trưởng bảo vệ bố trí nhân viên an ninh bãi đổ người và rải suốt lộ trình từ bãi vào sân tập họp, rồi quay mặt về phía chiếc ghe, đưa hai tay lên miệng làm loa, gọi lớn:
- Xong, cho xuống từng hai đứa một!
Ầám công an áp tải nhận lệnh, hò hét xua mọi người rời khỏi ghe. Những người tù ốm yếu, mệt mỏi và ngơ ngác chen nhau nhảy xuống bãi sình, dẫm đạp lên nhau để tránh những cái xô đẩy, đấm đá của đám áp tải. Không ai có hành lý gì ngoại trừ bộ đồ tơi tả và hôi hám trên người. Bãi sình non ngập quá gối, mọi người phải lê từng bước một, ngã tới ngã lui, càng cố bước nhanh càng như bị lún sâu, chậm lại. Một số nữ tù thành phố không quen, run rẩy không bước nổi, sợ hãi vừa khóc vừa quào cả hai tay như bò trên bãi sình, đầu mình, mặt mũi lấm lem, thảm hại.
Trên bờ, đám cán sinh cầm gậy chực sẵn, hò hét, thúc giục mọi người nhanh chân. Tất cả bị bắt ngồi bệt xuống đất thành năm hàng, hai tay chắp lại sau ót, im lặng và ngay ngắn để điểm danh.
*
* *
Hoàng lặng lẽ đứng riêng một chỗ, với tư cách là trợ lý đội, anh có quyền đi lại trong trại và hôm nay, có nhiệm vụ tham gia vào công tác nhận tù. Hoàng đã có mặt ở bờ sông lúc ghe vừa cập bến, anh trầm ngâm quan sát và buồn rầu nghĩ đến hình ảnh của mình hơn nửa năm trước đây. Hoàng bị bắt, tống vào thế giới đại bàng ở địa ngục Mạc Đĩnh Chi và được giải giao đến trại giam này như một chuyện tình cờ, giỡn chơi. Đời sống trong một xã hội không có kỷ cương và công lý như du người ta tham dự vào những trò chơi may rủi, kỳ cục và chết người.
Mọi chuyện bắt đầu từ một mẩu tin nhỏ đăng ở trang cuối báo Tuổi Trẻ. Mẩu tin loan báo vách ngăn đập nước thủy điện Trị An bị rò một trăm năm mươi bảy lỗ mội. Bốn triệu bảy trăm ngàn dân Sài Gòn đã xôn xao bàn tán về vấn đề này. Không phải mọi người quan tâm lo lắng đến những hệ quả của một kế hoạch kinh tế trọng điểm được nhà nước dốc vốn đầu tư và ồn ào quảng cáo suốt mấy năm trời, mà thực ra đây chỉ là một dịp để giải tỏa bực dọc, một cơ hội để tán gẫu, đùa chơi cho vơi bớt những ưu phiền, nhàm chán của cuộc sống hàng ngày.
Hoàng cũng thế, anh lý luận với bạn bè trong bàn cà-phê:
- Ấp suất đập nước thủy điện không phải thấp, một hệ thống hoàn chỉnh, đúng kỹ thuật chưa chắc đã chịu nổi, huống chi là những mảng vá víu, tạm bợ. Tuổi thọ của Trị An sẽ không cao.
Hoàng có lý, nhưng anh đã quên một điều hết sức quan trọng là không tự hỏi mình đang sống ở đâu, trong một đất nước như thế nào trước khi nói, và anh đã phải trả giá cho sự sơ suất đó. Hai thanh niên tóc dài, áo banh ngực đúng kiểu dân chơi đã sà đến bàn Hoàng, một gã hất đầu, hạch sách:
- Anh vừa nói gì thế? Anh chê chuyên gia Liên Xô thiếu trình độ khoa học kỹ thuật hiện đại à?
Hoàng hơi khựng lại, kinh nghiệm sống trong một xã hội đầy dẫy bất trắc buộc anh phải e dè, tránh né:
- Tôi chỉ nói Trị An không chắc, báo đăng đập bị rò, tôi không đả động đến Liên Xô, Tiệp Khắc gì cả.
Gã thanh niên cười gằn, sừng sộ:
- Anh nói chuyện con nít à? Liên Xô chỉ đạo thực hiện công trình thủy điện Trị An, anh chê Trị An là chê Liên Xô, chê xã hội chủ nghĩa hiểu chưa? Yêu cầu anh đi với tôi!
Hoàng muốn phản ứng nhưng không kịp, hàng triệu người đã nói về Trị An bằng những nhận xét mạnh mẽ và tàn tệ hơn anh rất nhiều, nhưng số phận đã không chiều anh, đã chọn anh trong trò chơi may rủi với cuộc đời. Gã thanh niên đã dúi vào mặt Hoàng một tấm thẻ nhỏ có hàng chữ “Ầội Bảo Vệ Chính Trị”, trước khi đứng lên rút từ túi sau quần jean một chiếc còng. Túi quần bên kia của gã, Hoàng thoáng thấy cồm cộm một cây súng nhỏ.
Hoàng đã phải nghe hàng trăm lần lời buộc tội chê Trị An là bôi bác Liên Xô, mỉa mai xã hội chủ nghĩa ở các buổi chấp pháp, ép cung. Anh biết không có lời lẽ, lý luận nào có thể thuyết phục được những gã cán bộ thẩm vấn lạnh lùng, cố chấp và đầy mặc cảm, nên đành miễn cưỡng nhận tội và chịu bản án hai năm cưỡng bách lao động. Hoàng đã đến đây, đã oằn lưng vác sáu trăm ký muối chạy hai cây số vào kho mỗi ngày, đã ngâm mình suốt buổi dưới nước để chuyền từng khối đất lớn đắp đập nuôi tôm, trước khi mảnh bằng tù tài cứu anh.
Trại trưởng gọi Hoàng lên văn phòng sau ba tháng ở trại. Gã tỏ vẻ niềm nở và thân thiện hỏi thăm nhiều điều về anh, rồi kết luận:
- Tôi biết anh có học, ở đây toàn bọn hình sự trộm cắp, đĩ điếm, một người như anh rất hiếm. Tôi đã nghiên cứu kỹ và chỉ định anh làm trợ lý đội. Anh làm tốt tôi sẽ đề nghị rút ngắn thời gian cưỡng bách cho anh. Đơn giản là phải làm theo mọi mệnh lệnh của chúng tôi.
Hoàng rất phân vân, khó xử. Đề nghị của trại trưởng quá mới mẻ đối với anh, đồng ý có nghĩa là tự biến mình thành một thứ cai tù; nếu không, chắc gì đã chịu đựng nổi hai năm khổ sai, mà cũng đâu giúp ích gì được cho ai. Hoàng tính toán rất nhanh và nhận lời. Anh sẽ là một cai tù, một cai tù bất đắc dĩ nhưng không tồi tệ. Hoàng nghĩ như thế.
*
* *
Trại tù khổ sai được che đậy dưới một lớp vỏ nhân nghĩa là “Trường Giáo Dục Lao Động”. Trại trưởng được gọi là hiệu trưởng và toàn bộ cai tù các cấp đều được gọi dưới những danh xưng nhẹ nhàng, tốt đẹp khác. Trại sử dụng một nửa là cán bộ, nửa còn lại chọn trong số các tù nhân những người có một số tiêu chuẩn đặc biệt nào đó thích hợp, cộng chung lại thành một guồng máy cai tù đông đảo và hữu hiệu. Tổ chức trại rườm rà, nhưng tựu trung nằm trong hai hệ thống.
Bộ phận canh giữ gồm đội vệ binh cán bộ và đoàn cán sinh được chọn ra từ số tù nhân gốc anh chị, đấm đá. Bộ phận sản xuất và giáo dục gồm một số nhân viên các cán bộ từ thành đoàn phái đến, số còn lại mang danh là cán bộ tự quản gồm trợ lý đội và các tổ trưởng, chịu trách nhiệm điều động, sắp xếp mọi sinh hoạt của đội.
Trại có tên là “giáo dục lao động”, nhưng thật ra nhiệm vụ lao động chiếm toàn bộ thời gian và bị chi phối bởi một kế hoạch chi tiết và chặt chẽ được soạn thảo phù hợp cho từng thời vụ. Việc giáo dục, nếu có, chỉ tùy thuộc vào từng khả năng và thiện chí của người trợ lý, cố gắng uyển chuyển để giảm bớt phần nào những nhọc nhằn, khổ ải và an ủi tinh thần bằng những lời lẽ ôn tồn, chia sẻ, những thể hiện thân ái, gần gũi gợi nhắc đến tình nghĩa con người, trong một nơi quá thiếu tình người.
Kế hoạch đày ải tù nhân được thực hiện rất đơn giản nhưng vô cùng hiệu quả. Chỉ cần sắp xếp một phong trào thi đua cho từng tháng một, và bắt hệ thống tự quản phải ràng buộc trách nhiệm với sự thành bại về kết quả thi đua của đội mình. Năng suất đội kém, những người có trách nhiệm có thể bị thay thế. Một cai tù có thể trở thành một người tù. Ngón đòn tâm lý này đủ mạnh để buộc những trợ lý, tổ trưởng biến thành một thứ công cụ điên cuồng và sắt máu đối với những người tù dưới tay mình. Người ta đạp lên nhau để sống, tàn nhẫn, lạnh lùng.
Hoàng rất hiểu hoàn cảnh tế nhị của mình và anh có những cách đối phó riêng: lấy điểm thương yêu đoàn kết, điểm vệ sinh, trật tự bù cho năng suất lao động. Lấy lời lẽ để thuyết phục và sự gương mẫu bản thân để khích động thay cho các hình phạt, đòn roi. Công việc rất khó khăn lúc đầu, nhưng dần dà đã thành nề nếp, và mọi người hiểu ra việc anh muốn làm, giúp Hoàng tạo được một sinh hoạt của đội tốt đẹp khác hẳn các đội khác.
Không khí tranh đua căng thẳng ngay từ lúc nhận người mới, trợ lý và tổ trưởng các đội tụ tập từng nhóm riêng chung quanh đám. Họ chỉ trỏ, chọn lựa, đánh giá từng người như những chủ nô lệ chọn hàng. Họ tranh cãi, giành giật với trưởng phòng tổ chức những người tù khỏe mạnh, dễ bảo. Hoàng không bao giờ có ý kiến trong việc này. Anh và những người cộng sự kiên nhẫn chờ đợi, nhận tất cả những người còn sót lại, hướng dẫn họ bằng tấm lòng và phương cách riêng của anh.
Những người tù chán chường và mệt mỏi muốn yên thân, muốn cho xong chuyện, họ hớn hở khi được chọn ra để về đội. Hoàng quan sát đám người mới và anh chú ý đến một người tù lạ - đúng ra là một đứa bé. Thằng bé biết thân, không chen lên trên để được chọn trước, nó ở cuối hàng, nhưng cũng cố gắng thể hiện sự có mặt bằng cách quỳ thẳng hai gối, nghếch đầu cao vượt những người ngồi gục phía trước. Việc những đứa trẻ vị thành niên đến trại rất hiếm. Có một trại dành riêng cho lớp người này, nhưng đa số bọn trẻ đều rất sợ phải đến đó. Trại giam này không kêu án, không có thời hạn nhất định, đám trẻ bị nhốt như một bầy thú hoang cho đến tuổi trưởng thành mới được thả rong ra đời. Năm năm, mười năm không chừng, tùy theo lứa tuổi lúc vào trại. Vì lý do đó, nhiều đứa trẻ có kinh nghiệm, từng biết lao tù, thường khai lớn tuổi để được có án, được hy vọng một ngày về.
Hoàng chờ cho các đội nhận đủ số người, anh tập họp những người còn lại, cho lập danh sách và trấn an mọi người, để họ bình tĩnh lại. Hoàng biết cách tốt nhất để người ta bớt sợ, bớt xa cách là cho họ biết mình là ai. Anh nói ôn tồn, nhỏ nhẹ:
- Cán bộ đội trưởng đi học “bồi dưỡng nghiệp vụ”. Tôi là trợ lý, chịu trách nhiệm hướng dẫn anh em. Tôi cũng là học viên, anh em an tâm, cố gắng chu toàn công tác và đừng trốn trại. Tôi rất hiểu anh em và sẽ làm mọi cách để giúp anh em.
Ầám tù mới vui mừng hớn hở, họ quay tới quay lui, thì thào bàn tán. Hoàng cho người đi lấy một xô nước sông để mọi người rửa lớp bùn đất bám đen ở chân, trước khi cho họ vào sam, khóa cửa.
*
* *
Hoàng đi một vòng quanh dãy nhà giam và hài lòng nhận thấy không có dấu hiệu khả nghi nào. Nhiệm vụ của anh là phải bảo vệ chặt chẽ nhân số được giao, công việc này được phân công cụ thể thành hai trường hợp rõ rệt: nếu tù nhân bỏ chạy ngoài bãi lao động, tiếng nôm na gọi là “đua nóng”, vệ binh và cán sinh sẽ chịu trách nhiệm. Trường hợp bị “đua nguội”, nghĩa là để người lẻn trốn trong đêm, hoặc trong giờ nghỉ tại trại, trợ lý sẽ là người đầu tiên phải trả lời về việc này.
Phạm nhân phần lớn thuộc thành phần bất hảo, sống ngoài vòng pháp luật. Việc có giấy ra trại hay không đối với họ không có gì khác nhau. Vì vậy, họ tìm mọi cách, lợi dụng mọi cơ hội để đào thoát. Có trường hợp nhiều người hè nhau cùng chạy một lúc bằng nhiều hướng khác nhau, tứ tán vào rừng đước. Vệ binh rượt đuổi thì cũng chỉ bắt lại được một ít, số còn lại ẩn sâu trong rừng. Có người đón ghe xin quá giang về được thành phố; có người đói khát, bí lối đành mò trở lại trình diện; cũng có người kiệt sức, lả người úp mặt xuống sình mà chết... Nhiều trường hợp tù nhân lẻn trốn ban đêm, họ đào hang, cạy vách, khoét mái nhà và bằng nhiều mánh khóe, phương cách khác nữa...
Ầối với Hoàng, việc phải chịu trách nhiệm về sự thất thoát nhân sự không làm anh mấy bận tâm. Hoàng không bao giờ mong có những giấy khen, cũng không bao giờ màng đến những tưởng thưởng vật chất về những thành tích đạt được, nên anh không sợ bị coi là có khuyết điểm. Tuy nhiên, Hoàng vẫn kiểm soát gắt gao số nhân sự thuộc quyền vì anh thực sự thương mến họ. Việc trốn vào rừng ở một vùng chằng chịt kinh rạch, có mực nước lên xuống rất cao hai lần một ngày sẽ vô cùng nguy hiểm cho bất kỳ ai. Hơn nữa, còn một điều quan trọng mà Hoàng hết sức lưu tâm, lo lắng, dù nhiều lúc anh cũng tự cảm thấy buồn cười với chính mình vì đã quá ưu tư đến một việc lớn lao không phải công việc của mình: một người tù! Hoàng biết cái trại này đã không làm được một điều gì để cải hóa con người, nó chỉ cầm giữ và đày ải. Một người tù không được giáo dục đúng mức sẽ lại phạm tội ngay khi có điều kiện. Càng phạm tội, họ càng chai lì, bất chấp, đôi khi còn tỏ ra hãnh diện về những thành tích lẽ ra phải xấu hổ của họ. Hoàng muốn đóng góp phần giới hạn phần nào các tội phạm. Anh biết việc cầm giữ để ngăn ngừa chỉ là một biện pháp vá víu, tạm bợ, không thay đổi được gì cái xã hội đỗ nát đến tận cùng này; nhưng ở vào vị thế của anh, không có một cách nào khác.
Hoàng trở về phòng. Nhà giam của đội là một dãy trại dài năm gian, có một cửa ra vào độc nhất ở chính giữa; từ đó, tù nhân sẽ quẹo trái hoặc quẹo phải để về phòng giam của mình. Hai phòng giam được ngăn cách với gian phòng giữa, gồm văn phòng và chỗ ở của trợ lý, tổ trưởng bằng một vách ngăn có cửa khóa chốt phía ngoài. Những người có trách nhiệm bên ngoài có thể dễ dàng vào trong kiểm soát bất cứ lúc nào bằng lối cửa nhỏ này; nhưng tù nhân bên trong bị buộc nằm đúng vị trí trên những dãy sạp hai tầng, chỉ được phép di chuyển đến thùng nước tiểu ở góc nhà, hoặc nhận nước uống từ văn phòng, sau khi đã hô lớn lý do xin di chuyển và được phép của các đốc canh từ phía ngoài.
Hoàng đốt một ngọn đèn nhỏ, anh dò lại danh sách những người tù mới đến và cho gọi Lê Văn Út, tên gã “tù con”, ra văn phòng. Thằng bé hốt hoảng khi bị gọi tên và rụt rè bước đến bên Hoàng. Nỗi kinh hoàng về những trận đòn vô cớ có thể đến bất cứ lúc nào ở trại giam như còn ám ảnh thằng bé. Nó ké né trong tư thế sẵn sàng chịu đòn và né đòn. Hoàng mỉm cười, anh chỉ chiếc ghế dài bên cạnh bàn và nói lớn, cố tạo nét cởi mở, thân mật:
- Ngồi đi nhóc con, đừng sợ, không ai làm gì mày đâu. Tội gì mà ra đây?
Thằng bé có vẻ ngạc nhiên vì được đối xử khác hẳn như nó đã chuẩn bị để đón nhận. Nó nhìn Hoàng vẻ biết ơn và trả lời trong khi vẫn đứng, hai tay khoanh lại trước ngực, đầy nét thành kính và tuân phục:
- Dạ, chấp pháp phê “Ngủ với gái”.
Hoàng mở tròn hai mắt ngạc nhiên, người hơi chồm về phía trước:
- Cái gì? Mày làm thế thật à?
Thằng bé ngơ ngác, hơi lạ lùng về thái độ thảng thốt của Hoàng. Mãi một lúc sau, nó mới chợt hiểu, mỉm cười và nói liến thoắng, tự nhiên hơn:
- ẻ, không có đâu ông thầy. Em chưa làm được chuyện đó. Em không biết ở đâu, nên đã vào khu ga cũ ngủ chung với mấy chị tiếp khách trong đó. Em chỉ giúp việc “an ninh”.
Hoàng cười lớn, anh nhìn thằng bé chăm chăm:
- Làm an ninh? Mày làm được cái gì nói nghe coi?
- Dạ, canh chèo (tiếng lóng nghĩa là “canh công an”) cho mấy chị ấy tiếp khách; có bố ráp khẩn cấp thì giúp mấy chị mặc đồ; tối đấm lưng và coi chừng bọn chôm chĩa.
- Rảnh thì cũng chôm chĩa chút đỉnh phải không?
Thằng bé bỗng có vẻ buồn và đau đớn như bị xúc phạm, nhưng không dám có phản ứng. Nó chỉ trả lời nhỏ:
- Không có đâu ông thầy, không bao giờ. Ngoại em nói ăn cắp xấu lắm. Em mà làm vậy bà sẽ đội quần mà đi, không dám nhìn ai, xấu hổ lắm.
Hoàng thấy hối hận vì lời nói đùa vô tình của mình, và thực sự thấy thương thằng bé. Tâm hồn nó còn đầy nét chân thật, trong sáng, nhưng đời đã không dành cho nó một sự quan tâm đủ để phân biệt được điều tốt, xấu. Nó sống như một kiểu cây hoang vô tình và hồn nhiên cả trước những điều xấu xa, tội lỗi. Hoàng muốn giúp nó, anh nói thân thiện:
- Mai cho mày ra ngoài này ở với ban chỉ huy đội.
Thằng bé ngơ ngác một chút trước một ân huệ quá lớn, nó cười rất tươi và nồng nhiệt lên tiếng:
- Thật hả thầy? Em xin cảm ơn, em sẽ đấm bóp cho thầy, cho mấy anh tổ trưởng. Em rành nghề lắm, đủ ngón ăn chơi.
Hoàng nghiêm mặt:
- Không đấm bóp cho ai cả, đây không có chuyện đó!
Thằng bé tiu nghỉu, nó len lét nhìn Hoàng, e dè thăm hỏi:
- Vậy em có được ra không?
- Được chứ sao không, bộ mày tưởng tao cần mày để đấm bóp à?
Hoàng trả lời hơi nặng giọng nhưng anh rất hiểu và thương thằng bé. Đời với nó là một sự đổi chác, nó đã quen sống như thế. Không ai làm không điều gì cho nhau và nó chỉ có một thứ để đền ơn, để trao đổi. Hoàng không nhận cho đấm lưng làm thằng bé lo âu, nó cảm thấy không còn điều gì để có thể được hưởng sự ưu tiên. Hoàng nói để trấn an thằng bé:
- Mày ra ngoài này sống với tao, quét nhà, dọn dẹp. Có ai báo cáo xin nước uống thì phát cho họ nửa ca. Để ý có gì lạ trong sam thì báo tao biết.
Thằng bé mừng rỡ ra mặt, nó nhìn quanh quất như định tìm cây chổi và dợm đứng lên đi làm. Hoàng lắc đầu cười lớn:
- Tính làm gì vậy ông tướng? Thôi, vào nghỉ đi, mai bắt đầu ra ngoài này.
*
* *
Thằng Út lanh lẹ và tinh ranh một cách khác thường. Cuộc sống lăn lộn với bản năng sinh tồn trong thế giới vỉa hè mạnh được yếu thua đã buộc thằng bé biết phải hiền lành như một con nai, mềm mỏng như một con thỏ và luồn lách tránh né như một con lươn. Biết thu người lại hoặc nhe nanh ra đúng chỗ, đúng lúc.
Lần thăm nuôi đầu tiên sau ngày thằng Út ra làm phục vụ, Hoàng đi họp về trễ. Anh thấy trên bàn riêng trong phòng ngủ mấy bao thuốc thơm, rất nhiều trà, bánh kẹo và đồ ăn mặn. Hoàng gọi Út, thằng bé hớn hở khoe:
- Em học kinh nghiệm mấy anh phục vụ các đội, vận động anh em có thăm nuôi “ủng hộ bồi dưỡng” đội trưởng.
Hoàng đã biết nhiều về tệ nạn này ở các đội, anh không ngờ Út đã nhanh nhẩu làm một việc anh không hề nghĩ đến. Anh trừng mắt nói lớn:
- Dẹp, trả hết cho người ta. Đội trưởng không có ở đây, tao không cho phép làm như thế!
Thằng Út chưng hửng, nó sợ hãi quơ vội mớ quà cáp, run rẩy làm rớt lên rớt xuống và đi như chạy ra khỏi phòng. Thằng bé vừa sợ, vừa lạ lùng về thái độ nóng giận của Hoàng nhưng không dám hỏi. Nó mang mớ đồ gom được vào sam, tìm các chủ nhân trả lại. Nhưng đến giờ ăn, Hoàng vẫn thấy đĩa thịt và mấy khoanh chả, chắc chắn không có trong khẩu phần nhà bếp, cũng không có trong số đồ ăn dự trữ của Hoàng. Anh lại gọi Út, thằng bé cười cười, nói giả lả:
- Em trả hết rồi ông thầy. Em bảo không có đội trưởng, trợ lý ra lệnh trả lại và cấm không được lấy gì của anh em. Ai cũng trầm trồ cảm ơn và ca ngợi trợ lý. Em chỉ giữ chút đỉnh để trợ lý đổi bữa. Đội trưởng mang tiếng, chứ có dính líu gì đến trợ lý đâu? Nghe nói ông ấy còn bắt chia tỷ lệ chứ có phải xin không đâu! Trợ lý nhân nghĩa quá, khổ chết!
Hoàng im lặng, anh vừa cảm động, vừa buồn cười và ngạc nhiên về cách thức tính toán khôn lanh quỷ quái của thằng bé. Hoàng không hài lòng, nhưng anh cũng biết không thể trong một lúc có thể nói để thằng bé hiểu hết mọi điều, từ từ sẽ hướng dẫn nó. Anh chỉ nói để dè chừng:
- Không được lân la vào sam lợi dụng xin xỏ người ta nghe chưa. Tao biết được có chuyện gì thì mày vô hàng.
- Không có đâu thầy, nhiều anh gọi cho mà em đâu dám lấy, em chỉ đấm lưng đổi đường thì đâu có gì sai, phải không thầy? Thỏa thuận mà...
Hoàng nhìn thằng bé, anh nhẩm tính số tuổi của nó và chua chát nghĩ đến tương lai của cả một thế hệ. Thằng Út thấy Hoàng trầm ngâm nhưng không la rầy gì nên an tâm lại gần, cười hiền lành và móc trong túi quần ra một gói thuốc:
- Thầy hút cho vui, không phải của xấu đâu, ba đêm đấm lưng của em đó. Của ít tình nhiều, em mời thật lòng.
Hoàng nhìn thằng bé, mắt nó lộ vẻ van lơn thành khẩn đến mức Hoàng thấy khó có thể từ chối. Anh mỉm cười nói ôn tồn, nhưng rất nghiêm trang:
- Đừng học thói quÿ lụy lo lót quen đi, tao chỉ cần mày ngoan, biết nghe lời và chịu làm việc. Tao cảm ơn, nhưng đây là lần cuối cùng nghe chưa, có nữa thì đừng trách.
Út vui mừng vì Hoàng đã nhận món quà. Nó thực sự thương mến anh và không hề nghĩ đây là sự lo lót, lấy lòng. Út sống hồn nhiên, vui vẻ, nó được cảm tình của tất cả mọi người. Hoàng tạo mọi cơ hội để nó được sống thoải mái. Anh sai nó đi đội này, đội kia, liên lạc với ban bảo vệ, phòng tổ chức báo cáo điều này, điều khác. Dần dần, việc đó thành thói quen và mọi người hầu như mặc nhiên chấp nhận Út là một thứ liên lạc viên có quyền đi lại trong trại. Thực ra, Hoàng cũng hơi e ngại có lúc Út sẽ bỏ trốn, nên có lần anh dọ ý, nửa đùa nửa thật nói với Út:
- Mày cần gì giấy tờ, hôm nào trại đi lao động hết ra bờ sông xin quá giang ghe mà về. Mày đi lại dễ dàng, có ai nghi ngờ gì mà sợ...
Út nhìn Hoàng đăm đăm, nó cười vui vẻ và nói chân thành:
- Về em cũng đâu biết làm gì thầy, lang thang lại bị bắt nữa, mà chắc gì lại được ra đây và được ở với người tốt như thầy. Với lại trốn kiểu đó ảnh hưởng đến thầy, bao giờ thầy về rồi em tính.
Hoàng tin lời Út nói và anh ít còn bận tâm để ý đến nó nữa.
Thằng Út đi đấm lưng, làm những chuyện lặt vặt anh em trong sam nhờ vả, và nó nhận lại được một số quà cáp nho nhỏ. Một lần, Út đem gởi Hoàng gần hai ngàn bạc. Hoàng ngạc nhiên hỏi về số tiền khá lớn này và Út giải thích là nó bán nước cho chị em bên sam nữ. Trại ở vùng duyên hải nước mặn không đào được giếng, hàng tuần có xà-lan chở nước từ thành phố ra, bơm vào một cái bồn chứa để uống và nấu ăn cho cả trại. Nước rất quý, phải sử dụng dè xẻn từng lít một. Tù nhân chỉ được uống không giới hạn hai lần một ngày sau các bữa ăn, những lúc khác phải báo cáo xin, và mỗi lần được cấp nửa ca nhỏ. Quanh năm, tù nhân nam nữ hoàn toàn chỉ tắm bằng nước mặn. Buổi chiều, mọi người được sắp hàng dẫn ra bờ sông lớn, tất cả để nguyên quần áo nhào xuống nước vừa tắm vừa giặt. Hàng trăm con người dẫm đạp trong một vùng nước cạn, bùn sình dấy lên đục ngầu như một vũng nước cơm. May mắn gặp hôm đúng con nước, nước dâng cao mép bờ đất, mọi người leo lên dễ dàng và đi về sạch sẽ. Hôm nào nước ròng, lội từ chỗ tắm vào bờ, bùn dính đầy chân đen ngòm như mang giày cao cổ, phải về phòng lấy giẻ ra lau, hoặc đợi sình khô gỡ dần từng mảng lớn.
Út lợi dụng được thong dong đi lại, đợi hôm nào có súc bồn, nó mang một cái thùng nhỏ ra giúp nhân viên phát nước làm việc. Nó vét từng ca nước cặn chứa vào thùng nhỏ, đợi lắng lớp cáu bẩn, san ra cái bình nhựa nhỏ khác và đem bán cho chị em tù nữ.
Hoàng ngạc nhiên về dịch vụ làm ăn lạ lùng này, anh hỏi Út:
- Một bình nhựa nước thì làm được gì mà mấy cô ấy mua?
Út cười lém lỉnh:
- Được nhiều chứ thầy, mối của em đâu phải xài một mình. Chị ấy thấm nước nhiều cái khăn nhỏ và bán lại cho các chị khác, lời lắm. Mỗi người chỉ cần có một cái khăn ướt lau mình là mát mẻ, đã đời hết biết.
Út tính toán chi li như vậy nhưng nó không phải người xấu bụng. Nó chỉ bán phần nước vét bồn khó khăn mới có được; nhưng gặp hôm trời mưa, nó ở ngoài dầm suốt buổi, ôm từng đống giẻ ướt chuyền vào cửa sổ ở tất cả các đội tù, vui vẻ giúp đỡ mọi người mà không hề kể lể công lao gì cả.
Út gom góp được một số tiền, nó mừng rỡ nói với Hoàng:
- Về chuyến này, em mua cho ngoại cái áo nâu cúng Phật. Ngoại em muốn lâu rồi mà không mua nổi.
Hoàng hỏi trổng, cố dấu vẻ xúc động:
- Bố mẹ đâu, sao chỉ nghe mày nhắc ngoại?
Út trả lời giọng buồn buồn, lơ lửng như không muốn nói đến gia đình:
- Không biết thầy, chỉ thấy ngoại nuôi.
Rồi nó chuyển sang chuyện khác:
- Gì thì gì chứ chuyến này em cũng phải giữ lấy chút đỉnh phòng thân. Kỳ rồi mà có mấy điếu thuốc thì em đâu có bị bắt, thầy. Lúc gom người chờ xe, ông công an đã bảo em “ế, thằng nhỏ, lấy tao mấy điếu ba số hút coi mày, láng cháng chi chỗ người ta làm việc”. Em biết ông ấy muốn thả em rồi, nhưng không có tiền biết kiếm “ba số” ở đâu. Ông ấy chờ không có, thèm thuốc nên giận, lúc xe tới bảo em lên luôn, bị hai năm tù lãng nhách.
Út kể chuyện, giọng đều đều, chua chát và cam phận.
*
* *
Mùa mưa đã qua, trại đón thêm một đợt tù mới để chuẩn bị vào mùa muối cực nhọc và tốn nhiều nhân lực. Đội Hoàng có thêm một đứa bé: thằng Tâm.
Tâm con nhà quyền thế, lành lặn, trắng trẻo. Nó ham vui theo bạn bè tập tành hút sách, chưa nghiện nhưng bị bắt gặp nhằm chiến dịch, không chạy chọt được, bị hốt về Mạc Đĩnh Chi rồi bị đẩy ra đây.
Có lẽ nhờ thế lực gia đình và quà cáp lót đường, Tâm đã không bị hành hạ nhiều ở trại tạm giam. Nó không có vẻ sợ hãi, thất sắc như Út mà rất tự tin, đôi lúc còn tỏ ra huênh hoang phách lối. Nó nói với Út lần đầu gặp nhau:
- Nhà tao lo rồi, tối đa là ở nửa án.
Thằng bé không chỉ lên mặt với Út, nó còn nhanh nhẩu đề nghị với Hoàng lúc được anh gọi ra văn phòng:
- Trợ lý giúp em đỡ cực, nhà em sẽ đền ơn.
Hoàng trừng mắt nhìn thằng bé, anh ghét cay ghét đắng thói ỷ lại, cậy thế, nhất là thái độ đó có ở một đứa trẻ. Hoàng đổi ý, anh không nói cho nó biết ý định muốn giúp đỡ nó như anh đã làm với Út và gọi người tống thằng bé trở lại phòng giam. Út rất buồn, nó không dám có ý kiến nhưng cả ngày cứ bồn chồn đi ra đi vào, nó nói với Tâm:
- Mày cần uống nước nói tao lấy. Mày ngu quá, trợ lý không giống như người khác, nói kiểu mày chỉ có chết.
Tâm lo sợ thực sự, nó nói như mếu:
- Tao đâu có biết, trên quận tao cũng nói vậy và được vui vẻ giúp đỡ cả, tưởng ai cũng vậy chứ ai ngờ, làm sao bây giờ?
Út đưa tay qua cửa sổ, vỗ vỗ vào vai Tâm, an ủi:
- Mày cứ sống đàng hoàng, rán chịu khổ ít bữa rồi tao xin cho. Trợ lý thương đám con nít bọn mình lắm, tao biết mà.
Út giữ đúng lời hứa, nó đợi Tâm đi lao động được mấy ngày trầy xước và bắt đầu ăn nắng dộp da, mới lân la đến bên Hoàng thăng thỉ:
- Thầy tha cho thằng Tâm được không? Nó chưa sống lăn lộn gì nhiều nên ăn nói vụng về chứ chắc không phải xấu đâu. Thầy thương nó, nó còn nhỏ.
Hoàng cảm động, nhưng anh vẫn cố giữ vẻ nghiêm nghị, lạnh lùng:
- Lo cho thân đi, hai đứa ra hết ngoài này, “chỉ tiêu” ai gánh?
Út trầm ngâm một chút rồi quyết định:
- Thầy cho nó ra đi, lúc nào thiếu người em đi làm cho. Em chịu cực được, nó không quen, tội nó.
Hoàng mỉm cười, thật ra anh cũng chỉ muốn dọa cho Tâm sợ và bớt huênh hoang chứ thực lòng anh cũng không nỡ nhìn một đứa bé lăn lộn ngoài đồng muối. Hoàng rất bằng lòng đề nghị của Út, nhưng anh cũng không thể tỏ ra quá dễ dãi, anh bảo Út chờ để anh suy nghĩ lại và hơn một tuần lễ sau mới gọi Tâm ra trình diện. Thằng bé đã mất vẻ phách lối như lần đầu, nó xuống giọng năn nỉ:
- Trợ lý tha lỗi cho con, con lạy trợ lý, con cắn cỏ ngậm vành đội ơn trợ lý.
Hoàng nhíu mày cố dằn cơn giận, anh không ưa cái kiểu nịnh bợ lộ liễu quá đáng như vậy. “Thứ này rồi sẽ không ra gì”, Hoàng nghĩ nhưng không lộ rõ ý mình, chỉ nói vắn tắt, lạnh lùng:
- Không việc gì phải nhiều lời ơn nghĩa như vậy. Mày nhỏ thì được làm việc nhẹ vậy thôi. Nhớ sống đàng hoàng, lạng quạng thì đừng trách tao.
Hoàng chấm dứt câu chuyện, nhưng Tâm chưa chịu ra ngoài, nó lải nhải cảm ơn và hứa hẹn đủ điều. Hoàng im lặng nghe, cuối cùng anh nói:
- Mày sống với thằng Út, chia công việc ra mà làm, phải thương nhau, nó xin cho mày ra đó.
Tâm vâng dạ mọi điều hết sức thành khẩn, lúc nó bước ra ngoài, Hoàng chợt nhớ gọi lại và nói thêm:
- Mày được ra văn phòng đội nhưng chưa được ra trại, để rồi tao sẽ coi lại.
Út đón Tâm ở cửa phòng, nó rất mừng khi biết quyết định của Hoàng. Út nói gì đó với Tâm rồi chạy vào cầm tay Hoàng lắc lắc biểu lộ sự thương mến và biết ơn, nó nhắc lại hồn nhiên và chân thật một điều đã nói:
- Khi nào kẹt công việc, thầy nhớ cắt em đi công tác, em làm được.
*
* *
Hoàng nóng nảy đi tới đi lui chờ thằng Út trở về. Anh thực sự khó chịu khi nghe Tâm báo lại tội trạng của Út, thằng bé đã thừa lúc Tâm đi vắng lấy hết số đồ ăn dự trữ của Tâm mà gia đình nó vừa tiếp tế tuần trước. Việc mất cắp rất thường xảy ra ở trại và Hoàng sẽ không có gì bực dọc nếu anh không quá tin tưởng và đặt nhiều hy vọng vào Út. ụ nghĩ là sự quan tâm của Út dành cho Tâm chỉ cốt được gần gũi để lợi dụng làm Hoàng không chịu được. Anh gặn hỏi lại Tâm:
- Mày có chắc thằng Út lấy đồ của mày không?
- Dạ chắc thầy, nó âm mưư từ mấy hôm nay không cho em ăn nhiều, để dành lại cho nó lấy.
- Nó có xin xỏ gì mày không?
- Dạ không, nó khôn lắm, em mời nó không ăn, còn nói giọng nhân nghĩa bảo em để dành mà ăn dần. Nó muốn em tin tưởng, sơ hở để nó lấy.
Hoàng im lặng, anh giận Út vô cùng. Những điều Tâm nói cũng có vẻ tin được, anh muốn gặp Út ngay và dợm đứng lên đi tìm thì Út trở về. Nó ôm một đống quần áo mới giặt, phần lớn của Hoàng và Tâm. Hoàng trợn mắt nhìn Út nói lớn:
- Bỏ hết đồ đạc đó, ra tao biểu!
Út sững người ngơ ngác trước sự nóng giận của Hoàng, nó nhìn anh đăm đăm như dò hỏi. Hoàng gằn giọng:
- Tại sao mày lấy đồ ăn của thằng Tâm, nó thưa. Đúng không?
Út có vẻ ngạc nhiên, hơi bối rối một chút, nó nhìn Tâm ánh mắt rất buồn và giọng thẫn thờ:
- Sao mày lại làm vậy, mình có bàn với nhau mà. Tao chỉ giữ dùm mày, tao...
Út đang nói bỗng dừng lại, nó trầm ngâm một chút rồi tiếp, mặt đanh lại, hung tợn:
- ẻ, tao hiểu rồi, mày lừa tao rồi báo trợ lý để hại tao, tao không ngờ... mày chết...!
Út hét lên và chồm về phía Tâm, nhưng rồi chợt nhớ, nó ngừng lại quay sang Hoàng, dịu lại:
- Em mà có vậy nước cuốn mất xác liền tức thì, thầy đừng tin nó. Nó lãnh đồ nhiều ăn ngày, ăn đêm, nghe nói ai thiếu thốn lâu ngày ăn nhiều đồ bổ vào sẽ trúng thực chết, em sợ cho nó nên can nó; với lại cũng phải giữ để còn có mà dùng chứ biết bao giờ có thăm nuôi nữa. Nó nói đồ có sẵn bên mình nhịn không được nên nhờ em giữ giùm. Trước sau em không đụng gì của nó hết sao nó lại đổ vạ cho em. Chắc nó muốn thầy ghét em để dùng nó. Em đâu ngờ nó như vậy.
Út nói một hơi rồi chạy lại kệ để đồ, nó xách một túi cói lớn đến trước mặt Hoàng và lấy ra một bao ny-lông cột rất kỹ, bên ngoài có ghim mảnh giấy đề mấy chữ lớn, viết nắn nót nhưng không thẳng hàng và sai lỗi chính tả: “đồ của tâm”.
Hoàng nhìn thấy và hiểu hết mọi sự, anh đến bên Tâm, nắm hai vai giở hỏng cả người nó khỏi mặt đất, rồi vừa giộng mạnh xuống vừa hét:
- Nói!
Thằng Tâm tái mặt, run lẩy bẩy, nó lom khom như sắp quỳ trước mặt Hoàng, lắp bắp:
- Em lỡ, em lỡ... xin tha cho em...!
Hoàng chán chường nhìn thằng bé và tự hỏi cái gì đã khiến một đứa bé mười mấy tuổi biết tính toán những điều ác hiểm, thâm độc như thế. Hoàng định đánh Tâm một trận, nhưng rồi anh đã không làm. Lỗi không phải hoàn toàn ở nó. Hoàng đã sống, đã chứng kiến những thay đổi, phân hóa tận cùng của xã hội và của từng con người, mọi giá trị xã hội và căn bản đạo đức bị xáo tung, mất sạch. Điều được gọi là đạo đức xã hội chủ nghĩa chỉ là những lập lờ không tưởng, những tô vẽ vụng về, vô hồn, chỉ có trên khẩu hiệu. Sự việc lớn lao ngoài khả năng giải quyết của một người. Hoàng mệt mỏi nói cho xong chuyện:
- Mày làm gì kệ mày, nhưng hại người khác thì không tha thứ được. Mày lại còn định lừa cả tao. Tao không chịu được mày nữa rồi. Thôi, vào lại trong sam đi.
Vừa nói, Hoàng vừa đi ra sân. Tâm khóc rống lên, nó định chạy theo năn nỉ, nhưng Hoàng đã quay lại, trừng mắt làm nó tiu nghỉu, chùn bước lại. Hoàng nói lớn với Út:
- Mở cửa cho nó vào phòng.
Út im lặng làm theo lời Hoàng, nó không xin cho Tâm nhưng cũng không tỏ vẻ vui sướng, thỏa mãn vì Tâm bị phạt. Mấy ngày đầu, Út lầm lì không nói gì với Tâm, nhưng từ ngày thứ ba, thứ tư trở đi, nó thường vào sam chơi với Tâm. Nó dạy thằng bé đấm lưng, và mấy ngày sau, Tâm đã có thể “hành nghề” được. Những người tù lớn tuổi hay uể mình và cũng muốn giúp thằng bé nên đã thỏa thuận mỗi chầu đấm bóp đổi lấy một lần vác giùm một cần xé muối từ khu sản xuất vào kho. Thằng bé chỉ cần ra nghề năm bảy lần một đêm là đã được trả gần hết số chỉ tiêu ít ỏi mà Hoàng đã kín đáo ra lệnh cho các tổ trưởng ưu đãi dành cho nó.
Tình cảm của Út dành cho Tâm khá tế nhị, nó không thù ghét vì Tâm đã có ý muốn hại nó mà chỉ buồn phiền thất vọng vì Tâm đã tỏ ra xấu bụng. Giữa một nơi toàn những người lớn tuổi, lọc lõi, Út biết nó quá nhỏ nhoi, thấp bé, nhưng nó tự hào cho là mình từng trải hơn và nó cảm thấy có bổn phận bảo vệ, hướng dẫn Tâm.
Ngày Tâm được Hoàng cho ra lại ngoài ban chỉ huy, Út rất mừng, nó cười nói luôn miệng và đêm đến, lúc đi ngủ nó nói riêng với Tâm:
- Trợ lý rất tốt với mày, phải nhớ ơn và đừng phụ lòng ông ấy. Đừng nghĩ nhớ ơn là phải cho chác cái này, cái kia, mày sống tốt là ông ấy vui.
Út lo lắng và nhường nhịn Tâm mọi điều, nó luôn luôn nhận lãnh những việc nặng nhọc hơn và đôi lúc còn làm thế cả những việc của Tâm.
Tâm tỏ ra khôn lanh, biết luồn lách, thích nghi nhanh với đời sống ở trại, nó vẫn chưa được Hoàng cho đi lại tự do như Út, nhưng cũng đã biết vận động, lấy lòng đám vệ binh, nên thỉnh thoảng được đón đi đấm lưng và đã lợi dụng cơ hội này để lang thang khắp trại. Những lúc như thế, Út phải làm hết công việc ở nhà, nhưng nó không hề phiền trách mà còn tỏ vẻ vui mừng cho Tâm. Nó còn nhường “khách hàng” cho Tâm đấm lưng lấy đường, mặc dù thường thường sau đó Út phải đấm bù vì phần lớn “thân chủ” than phiền là Tâm đấm không đủ “đô”.
Phần Tâm, nó chỉ tỏ ra biết điều và dễ mến lúc... sa cơ. Khi có “thế” một chút là nó lại bắt đầu thay đổi. Đối với Út, trước sau Tâm vẫn muốn chứng tỏ là mình khôn ngoan hơn, có giá hơn và chưa hề thể hiện điều gì biểu lộ sự thông cảm, biết ơn đối với Út; thậm chí có lúc nó còn cố tình chê bai Út dơ dáy, tay chai cứng đấm bóp không êm để... giành khách hàng làm ăn. Út biết, nhưng nó chỉ cười không nói gì với ai. Riêng với Hoàng, Út tâm sự:
- Tội nó thầy ạ, nó không xấu lắm đâu, tại thèm đường quá. Sao lâu rồi không thấy nhà nó lên thăm?
Hoàng không có ý kiến gì. Út im lặng một chút rồi nói nho nhỏ như đang tự nhủ với chính mình một điều phát giác mới mẻ, lạ lùng lắm:
- Kỳ thật, cơ thể con người làm sao mà có lúc thấy như không có chất ngọt là có thể chết liền đi được. Chắc tại thiếu một cái gì đó!
Quan hệ giữa Út và Tâm có vẻ bất ổn và thật khó tồn tại nếu không có tấm lòng độ lượng của Út. Hai đứa bé vẫn sống với nhau trong một mối tương quan không mấy bình đẳng nhưng vẫn vui vẻ và hòa thuận cho đến hôm Út đánh Tâm, đánh tàn bạo và hình như vô cớ...
*
* *
Hoàng mệt mỏi đứng chờ cả đội qua hết chiếc cầu nhỏ vào khu nhà giam, mới an tâm để các tổ trưởng đưa anh em về sam và đi về phía căng-tin định uống một ly cà-phê cho tỉnh táo. Suốt buổi tối hôm trước, Hoàng gần như thức trắng và sáng nay phải dẫn đội đi làm sớm nên cả ngày, người cứ ngầy ngật, đờ đẫn lúc nào cũng như muốn gục xuống, thiếp đi.
Ầêm qua, vệ binh phát hiện một cuộc trốn trại tập thể. Tù nhân hai đội nam số ba và số sáu đã đào vách lẻn trốn cùng một lúc trên hai chục người. Vệ binh dường như biết trước, nên đã báo động và bố trí sẵn sàng ngoài vòng đai, nhưng số người vượt trại quá đông, đã thừa đêm tối ào xuống rạch, bơi lặn tứ tán nên toán phục kích không kiểm soát được. Họ bắn loạn xạ và hò hét, rượt đuổi náo động cả trại. Hoàng vẫn còn thức khi sự việc xảy ra, anh bình tĩnh cho đốt mấy cây đèn bão và vào phòng giam kiểm soát. Tất cả mọi người bị gọi dậy và ra ngồi ngay ngắn ở mép ngoài sạp nằm, quay mặt về phía văn phòng. Phương thức điểm danh này rất nhanh chóng và hiệu quả, những chỗ trống trên sạp nằm sẽ giúp phát giác chính xác tức khắc số lượng và tên tuổi từng người nếu có sự thất thoát. Đội không vắng ai, Hoàng hài lòng cho mọi người giải tán, anh bước ra ngoài, khóa cửa lại, dặn dò các tổ trưởng cẩn thận và cầm đèn đi rọi một vòng quanh dãy nhà.
Hoàng thấy hết sức khó chịu. Đây không phải là lần đầu tiên xảy ra những sự phiền toái vì sự làm việc thiếu kết hợp giữa bộ phận bảo vệ và những người có trách nhiệm quản lý. Vệ binh biết có trốn trại nhưng không báo để đội đề phòng, họ muốn chính họ sẽ là những người ngăn chận được việc đào thoát, và như thế điểm trừ của các đội mất người sẽ được cộng thêm vào điểm tốt của họ, và họ sẽ được một quyền lợi nho nhỏ nào đó trong những buổi thi đua, bình bầu cuối tháng.
Hoàng muốn để mặc mọi việc, đội anh không mất người là đủ. Anh không có trách nhiệm gì, nhưng những ràng buộc tình cảm giữa các đội với nhau đã buộc Hoàng không thể dửng dưng. Hoàng theo mọi người vượt con rạch lớn, ra sát bờ rừng đước, cô lập các đường mòn dẫn đến bờ sông và cuối cùng gom đủ số người vượt trại đưa về phòng bảo vệ nhưng mọi người đều mệt lã.
Hoàng suy nghĩ mông lung, anh uống vội ly cà-phê và uể oải trở về. Khắp người mỏi nhừ và trán hâm hấp nóng, Hoàng định sẽ cho miễn buổi sinh hoạt thường lệ, để mọi người nghỉ sớm và đi ngủ cho lại sức. Hoàng chỉ muốn yên lặng, nghỉ ngơi. Nhưng chính vào lúc ấy lại xảy ra việc Út đánh Tâm.
Tổ trưởng trực đang làm việc, anh ta ra tận cửa đón Hoàng, tay cầm khúc gậy đước dài đầy u nần, mặt hầm hầm, hung tợn:
- Anh vào coi, hai thằng nhỏ đánh lộn bể đầu mà còn lì, hỏi không nói!
Hoàng bước vào phòng, Út và Tâm đang bị bắt nằm song song dưới sàn. Mặt Tâm sưng húp và áo rách toạc một mảng lớn. Tổ trưởng trực cầm khúc đước nhịp cốp cốp trên bàn và gằn giọng:
- Tao hỏi một lần chót, tại sao hai đứa đánh lộn, giỡn mặt với tao là chết đòn, nhớ đấy.
Tâm ngoái cổ nhìn Hoàng, nó nói nho nhỏ:
- Lỗi tại em.
Út cũng quay lại, nó nói lớn, dứt khoát:
- Không phải đánh lộn, em đánh nó, em trách nhiệm.
Tổ trưởng trực chán nản nhìn hai thằng nhỏ, gã xử theo kiểu nhà tù:
- Thôi, không lôi thôi mất thời giờ với hai đứa bay nữa. Đứa nào cũng muốn nhận lỗi thì tao phạt hết. Mỗi đứa mười roi, tái phạm thì liệu hồn!
Hoàng im lặng bỏ vào phòng, gã tổ trưởng lấy thế, hai tay cầm chặt khúc đước và dùng hết sức quất mạnh vào mông Tâm. Thằng bé oằn người, lăn lộn khóc, nhưng không xin xỏ gì. Út tỏ ra can đảm và lì lợm hơn, nằm im chịu phạt.
Buổi tối, Hoàng đi nằm sớm, anh mệt đến mức gần như lịm đi, bất chấp những tiếng ồn ào của đám tổ trưởng đang tập trung uống trà, tán gẫu phía ngoài. Anh cũng không hề biết đến sự có mặc của Út trong phòng, cho đến khi nó rụt rè lên tiếng:
- Em gây chuyện phiền hà quá, thầy tha lỗi.
Hoàng mở mắt ra, anh hơi nhíu mày và nhắm mắt trở lại:
- Tao mệt lắm, để tao yên một chút, có gì mai nói.
Út ngần ngừ giây lát, rồi tiếp:
- Thầy cứ nằm nghỉ nhưng cho em nói, chuyện không thể nói chỗ đông người... Tâm nó báo vệ binh việc trốn trại hôm qua.
Hoàng hơi ngạc nhiên và bắt đầu chú ý tới điều Út muốn nói, nhưng anh vẫn nằm và hỏi cầm chừng:
- Thì nó làm đúng, bộ mày muốn có trốn trại à?
- Đâu có thầy, nhưng không phải báo cáo kiểu nó, nó là thằng phản bội!
Hoàng hơi nhỏm dậy. Út ngắn gọn nhưng thường có những chi tiết bất ngờ. Anh gợi mở để thằng bé tiếp tục:
- Sao mày rắc rối vậy, nó biết thì báo, có gì mà làm lớn chuyện?
Út chồm tới trước, nó có vẻ đắn đo và cố gắng để diễn tả một ý tưởng dài dòng, khó khăn:
- Nó nhận quà hối lộ của anh em và lãnh nhiệm vụ canh vệ binh, đội mình có thể nhìn rõ bên phòng bảo vệ, kế hoạch là đến giờ hẹn nếu thấy có sòng “tiến lên”, vệ binh tập trung để chơi bài, Tâm sẽ búng một tàn thuốc bay cầu vòng ngoài chỗ trống, anh em sẽ ra theo ám hiệu đó. Đàng này, Tâm đã báo cáo trước với vệ binh và búng tàn thuốc khi vệ binh đã bố trí sẵn, không còn ai ở đội cả.
Hoàng im lặng. Út chờ một chút rồi ngập ngừng nói tiếp, nửa lý sự, nửa phân trần:
- Em nghĩ là chẳng thà đừng nhận quà cáp gì, đừng hứa hẹn gì, để anh em họ làm sao thì làm; còn nếu như đã hứa thì phải giữ lời, chết sống gì cũng giữ lời, lừa anh em cùng cảnh ngộ là điều xấu xa hổ thẹn lắm chớ. Em nghĩ vậy thầy coi có phải không?
Hoàng nhích sát gần Út, anh nắm tay nó và thực sự thấy xúc động. Không ngờ một đứa trẻ côi cút trôi dạt như nó lại có được tấm lòng và cái nghĩa khí ít còn tìm thấy trong cuộc đời. Hoàng cố dằn cảm xúc, anh hỏi lửng lơ:
- Nó xấu vậy sao mày không khai với tổ trưởng tội móc ngoặc của nó? Sao để bị đòn oan uổng vậy?
Út dáo dác như sợ ai nghe thấy, nó xuống giọng gần như thì thầm:
- Không được đâu thầy, việc này mà lộ ra là nó chết, chuyện... giang hồ mà. Em giận đánh nó nhưng không nỡ bỏ nó, nó không biết...
Út ngừng lại, theo dõi phản ứng của Hoàng, rồi nó nói nho nhỏ, e dè như sợ điều nói ra sẽ làm Hoàng bất bình:
- Tâm nó khác nhiều rồi thầy, nó sai lầm vì cạn nghĩ thôi chứ không có chủ tâm, xấu bụng. Nhờ thầy hết, cái gì... gần đèn thì sáng đó mà... Hồi mới tới đây, em cũng đâu nghĩ là đời còn có người tốt với nhau...
Hoàng mỉm cười, anh nhìn Út lắc đầu:
- Mày lý sự như ông cụ non, nghĩ tốt cho người khác thì... cũng tốt thôi, nhưng đừng để bị lợi dụng. Thôi, đi ra cho tao ngủ.
Hoàng nói và nhắm mắt lại, anh nghĩ là Út đã ra ngoài nhưng mãi một lúc lâu, lại có tiếng Út rụt rè:
- Thầy cho em xin một chuyện nghe thầy?
Hoàng ngước nhìn Út, anh hơi khó chịu và định lớn tiếng đuổi nó đi, nhưng thằng bé có vẻ xúc động, mắt chớp chớp như đang có một điều gì quan trọng, khó nói nên anh không nỡ nặng lời, chỉ hỏi trỗng:
- Cái gì nữa? Sao hôm nay mày nhiều chuyện vậy?
- Xin thầy cho em qua đội ba...
Út nói nhanh, mắt nhìn Hoàng đăm đăm. Nó sợ như nếu ngập ngừng sẽ không đủ can đảm để nói. Hoàng ngạc nhiên nhìn Út, anh hỏi lại như sợ mình nghe lầm:
- Sang đội ba...?
- Dạ.
- Sao vậy? Có gì buồn tao à?
Út nắm vội hai tay Hoàng, nó hấp tấp nói như sợ sự giải thích chậm trễ sẽ làm anh hiểu lầm và buồn:
- Không phải vậy đâu thầy, em thề, em chỉ muốn giúp thằng Tâm, nó nhỏ hơn em mà; ở chung thì sẽ khổ cả hai đứa. Thầy biết, đồ ăn của trại thiếu quá, em thì mồ côi mà nó thì gia đình cũng không thấy thăm nuôi. Em ở lại thì nó... thất nghiệp, chia ra hy vọng hai đứa đều có việc làm, sống được.
Hoàng im lặng và suy nghĩ nhiều về điều Út nói, anh thực sự thấy cảm động và xót xa. Cuộc sống đã dạy cho thằng bé những tính toán khôn ngoan và thực tế đến lạnh lùng. Giữa tình cảm và cuộc sống áo cơm, phải dứt khoát chọn lựa và phải biết chấp nhận những mất mát cần thiết. Hoàng nói thẫn thờ:
- Vậy sao không để thằng Tâm đi?
- Dạ, không được đâu thầy. Em cũng đã tính vậy, em không muốn xa thầy, nhưng nó khờ lắm, qua đội mới sẽ không sống được đâu. ở đây, nhờ thầy, nhờ anh em đã quen. Em lăn lộn được, đi lại được... em sẽ thăm thầy mỗi ngày.
Hoàng vừa thấy thương vừa phục thằng bé. Anh thấy khó xử nhưng cũng không nỡ để Út qua đội khác nên bảo nó bình tĩnh, chờ đợi, anh sẽ cố tìm cách giúp nó được toàn vẹn. Út mừng rỡ lắm, nó thực tâm không muốn phải xa Hoàng.
*
* *
Hoàng hứa để Út an lòng, nhưng thật ra anh cũng chưa biết phải làm thế nào để giúp nó. Tiêu chuẩn của trại nhất định, và bản thân anh cũng không dư dả gì để có thể san xẻ cho nó. Tính toán của Út khá hợp lý và anh không thể ngăn cản nó trừ khi có thể lo cho nó tạm đầy đủ. Hoàng đang phân vân khó xử thì một cơ hội ngẫu nhiên đã giúp anh: Tâm được về!
Quyết định đến có vẻ đột ngột, nhưng suy cho cùng thì lại rất bình thường trong những trường hợp có sự vận động, xoay sở riêng. Tâm ở chưa được một phần tư số án. Nó nhận giấy và được lệnh phải theo ghe về văn phòng chính của trại ở thành phố liền trong ngày.
Út tiễn Tâm ra tận chỗ ghe đậu, Tâm có vẻ cảm động, nó nói giọng nồng nhiệt:
- Mày về tới tao chơi, nhà tao ở góc Tự Đức - Tú Xương dễ tìm lắm. Nhà cổng sắt màu xanh, có hai cây sứ và bảng coi chừng chó dữ, bấm chuông là có người ra. Nếu lộn thì hỏi nhà cũ của Chuẩn tướng X, cả vùng ai cũng biết.
Út cười buồn buồn:
- Tao biết chừng nào mới về, may lắm là được giảm vài ba tháng, còn lâu lắm. Thôi, mày về là mừng rồi.
Tâm nhìn Út, nó nói nhanh, chân thành, cố gắng để thuyết phục:
- Hay mày cho tao biết chỗ, tao sẽ canh ngày đón mày. Tao đi lại không khó khăn phiền toái gì đâu, tao có xe.
Út cúi đầu ngần ngừ một lúc lâu mới ngước lên nhìn Tâm, nói chậm rãi:
- Thôi mày ạ, tao cảm ơn mày, nhưng thực tình tao cũng không biết sẽ ở đâu. Trước tao sống lòng vòng khu Mả Lạng, Ga, Quách (tiếng lóng chỉ công trường Quách Thị Trang, Sài Gòn)... nhưng mai mốt chưa biết sao, có lẽ tao về Thủ Thiêm với ngoại tao, bà tao già lắm rồi.
Tâm còn định nói thêm nhiều điều nhưng ghe đã nổ máy, nó nắm chặt tay Út lắc lắc, rồi vừa hấp tấp xuống ghe vừa ngoái cổ lại:
- Mày ở lại mạnh giỏi!
Út không nói gì chỉ gật gật đầu. Lúc ghe vô số lùi ra khỏi bãi đậu một khoảng ngắn, Tâm thảy mạnh cái bọc nhỏ đựng bộ quần áo mới lên bờ, nói lớn:
- Mày giữ bận kỷ niệm, đừng giận tao.
Út thẫn thờ nhìn chiếc ghe xa dần, Tâm giơ tay vẫy vẫy nhưng Út không nhìn thấy gì, mắt nó mờ lệ. Út đứng đó cho tới lúc chiếc ghe chỉ còn là một chấm nhỏ mờ mờ, mới lầm lũi trở về sam.
Hoàng đón Út ở cửa, anh biết thằng bé đang buồn nên hỏi như muốn chia xẻ với nó:
- Tâm về buồn há!
- Dạ, nhưng mừng cho nó.
- Em đáng về hơn nó nhiều, em không cần học hỏi gì ở đây cả.
- Dạ, đâu được thầy, nó về có cha mẹ giáo dục. Em mồ côi nghèo khổ, ai tin em mà cho về!
Hoàng thấy nhoi nhói trong lòng, anh cầm tay Út, dịu dàng:
- Đừng mặc cảm như vậy em. Cha mẹ nó chắc gì đã dạy nó được một câu ý nghĩa như ngoại em đã làm, và chắc gì nó đã biết nghe lời, biết ghi nhớ như em đã nhớ lời ngoại em dạy.
Út im lặng có vẻ suy nghĩ, Hoàng cũng không nói gì thêm.
*
* *
Những ngày kế tiếp Hoàng suy tính rất nhiều, việc khó xử của Út kể như đã giải quyết xong, nhưng Hoàng vẫn cảm thấy mình đã có một thiếu sót rất lớn. Anh đã làm được một số điều cho anh em, nhưng đã hầu như quên mất một điều quan trọng nhất. Đời sống tinh thần dầu tốt đẹp đến thế nào, cuộc sống vẫn không đầy đủ nếu con người quá thiếu thốn, đói khổ.
Hoàng muốn thay đổi tình trạng này. Anh thành lập những toán công tác “đặc biệt”, lựa ra những người gần hết án, không còn cần thiết phải trốn trại, giao cho các tổ trưởng dẫn đi “cải thiện” chung quanh trại trong những giờ nghỉ. Anh em đợi nước ròng, mang thùng ra lội bắt ốc len, một loại ốc nhỏ, thịt ngọt và thơm thường nổi lên theo con nước và bám lại trên cây, lá khi nước rút xuống. Những thùng ốc lớn được ngâm nước cho nhả bùn và luộc rồi chia đều cho cả đội.
Hoàng vô cùng xúc động, anh không ngờ món quà nhỏ này lại tạo thành niềm vui lớn cho những con người khốn khổ tội nghiệp đến như vậy. Buổi chiều, mọi người thường tụ tập quanh cửa sổ nhìn ra ngoài, mong ngóng toán công tác trở về. Từ xa, những người bên ngoài biết ý các bạn, đã thường giơ tay ra dấu số thùng ốc bắt được và tin này lại được các anh em đang chờ đợi bên trong xôn xao truyền lại cho nhau.
Hoàng rất vui và anh nghĩ đến một kế hoạch khác, lớn hơn. Anh đề nghị với phòng tài vụ trích một số tiền ăn của đội để mua hai chiếc chài. Anh em sẽ bị giảm thực phẩm trong một thời gian ngắn, nhưng sau đó sẽ được bù lại lâu dài bằng số cá bắt được. Kế hoạch này vượt quá quyền hạn của trưởng phòng tài vụ, gã báo sự việc với trại trưởng và Hoàng được gọi lên văn phòng. Hoàng trình bày dự định của mình hết sức tỉ mỉ và kết luận:
- Anh em được cải thiện bữa ăn, hy vọng sẽ có thêm sức khỏe và năng suất lao động sẽ tăng.
Trại trưởng mỉm cười:
- Có thể, nhưng anh có nghĩ là bọn nó khỏe mạnh sẽ trốn trại nhiều hơn, sẽ có nhiều rắc rối hơn không?
Hoàng nhìn sững trại trưởng, anh không ngờ một người luôn khoe là đang làm công tác giáo dục lại có những ý nghĩ lạ lùng và tồi tệ như vậy. Trại trưởng tinh ý nhìn thấy thái độ bất bình của Hoàng, gã cảm thấy hối hận vì đã sơ hở để lộ một ý tưởng thật với một người mà lẽ ra gã phải gắng đóng trọn vai kịch, nên vội nói chữa:
- Đùa vậy thôi, tốt, rất tốt, sáng kiến của anh rất hữu ích. Trại vẫn luôn luôn mong muốn như thế. Tôi sẽ nghiên cứu và giải quyết.
Hoàng từ giã trại trưởng, anh không mấy tin tưởng vào thiện chí của gã, nhưng anh vẫn hy vọng gã sẽ chấp thuận, vì kế hoạch của anh có vẻ phù hợp và thuận lợi cho việc tuyên truyền, khoe khoang thành tích của gã. Hoàng chờ đợi, nhưng anh chưa nhận được một quyết định cụ thể nào thì chính anh gặp tai họa...
Trại trưởng vì thiếu quà cáp, thiếu sự thù tiếp chu đáo và hậu hĩ khi đoàn thanh tra của Viện Kiểm Sát Nhân Dân đến, anh ta đã bị phê bình, bắt bẻ chi li đủ chuyện, mà một việc được coi là hệ trọng nhất là đã dám sử dụng một đối tượng có tư tưởng chính trị phản động, như Hoàng làm trợ lý đội. Trưởng đoàn thanh tra hằn học phát biểu:
- Không cần khả năng, trình độ gì cả. Trộm cắp, đĩ điếm gì cũng được nhưng chống đối chế độ thì không được làm cán bộ tự quản. Bộ đồng chí muốn tạo cơ hội cho nó tuyên truyền chống nhà nước à? Đồng chí coi lại lập trường tư tưởng đi, như thế là không được đâu đấy.
Trại trưởng bực dọc và bị chạm tự ái nhiều về lời chỉ trích này, gã định biện bạch nhưng rồi lại e dè trước kiểu lý luận chết người của trưởng đoàn thanh tra, gã gọi Hoàng đến và nói giả lả cho đỡ mất mặt:
- Thôi, tạm thờ anh chịu khó vậy nhé. Mấy ông bàn giấy lẩm cẩm biết gì, vài hôm họ về rồi tôi sẽ coi lại...
Hoàng bị đưa lại vào sam lao động. Anh không buồn không vui gì về việc này, thản nhiên chấp nhận nó như một chuyện hiển nhiên có thể xảy ra bất cứ lúc nào trong cảnh lao tù, chìm nổi.
Buổi chiều ngày đầu tiên Hoàng đi lao động về, Út chạy ra đón từ ngoài đầu cầu. Nó đưa cho anh một chiếc khăn thấm đẫm nước và nói nhỏ:
- Thầy lau đỡ cho mát, em mới phụ vết bồn hồi chiều, mai nước lắng tha hồ tắm.
Buổi tối, Út vào sam rất sớm, nó mang một ca nước lớn ép Hoàng uống và đề nghị:
- Thầy nằm em đấm lưng cho, ngày đầu làm nặng mỏi lắm.
Út nói và không chờ Hoàng trả lời, nó phủi chân leo lên sạp, xoay người Hoàng lại trong tư thế thuận tiện để đấm bóp. Cực chẳng đã Hoàng phải để Út làm, nhưng thực tâm anh không muốn. Hoàng nói khi Út bắt đầu chấp hai tay lại, nhịp đều đều những âm thanh tách tách...:
- Tao không thích thế này đâu, tù với nhau cả làm khổ nhau coi không được, mày đấm lần này thôi nhé.
Út cười nho nhỏ, nó nói như để thuyết phục vỗ về Hoàng:
- Hơi đâu mà thầy lo, tình cảm với nhau mà. Em tình nguyện chứ thầy có bắt ép gì đâu mà ngại. Trước thầy chỉ huy, em giữ cho thầy, còn bây giờ thoải mái mà. Thầy đỡ khổ là em vui.
Út nói lời lẽ mộc mạc nhưng chí tình, Hoàng biết nó thật lòng thương anh; từ chối sự săn sóc của nó có thể hiểu là màu mè, xa lánh và sẽ làm Út buồn. Hoàng thấy khó nghĩ; anh hỏi vu vơ, cố ý đùa cợt để che giấu vẻ xúc động của mình:
- Dành nước cho tao rồi chuyện làm ăn ra sao? Hàng cung cấp không đều coi chừng mất mối đấy nhé!
Út cười hì hì, nó gần như đọc thuộc lòng một câu nói đùa có sẵn nhưng lại bằng một giọng hết sức chân thành:
- Mối mang gì đâu thầy, cần bỏ thì bỏ chứ sợ gì, "tình cảm là quý chứ tiền bạc nghĩa lý gì", thầy.
Hoàng cười lớn, anh xoay người lại, nhìn Út lắc đầu, nửa đùa nửa thật:
- Tình cảm! Mày lúc nào cũng tình cảm, tình cảm; coi chừng có ngày đói nhe răng.
Không hiểu ý Hoàng, nó không nhận thấy vẻ hài lòng âu yếm trong câu nói của anh nên cố bào chữa, chống chế:
- Không có tình cảm thì đời còn gì đâu thầy. Sống như vậy đâu ra sống nữa, em ở cảnh đó rồi, em biết...
Hoàng im lặng nhắm nghiền hai mắt. Anh mơ hồ nghe loáng thoáng những lời Út nói và có cảm tưởng thằng bé giống như một ông già. Hoàng thở dài nhè nhẹ, anh cũng đã già đi nhiều lắm. Bao năm tù trong trại, trong đời rồi còn gì. ./.
----------------------------------------------------------------

Người Lính Không Có Vũ Khí
Tác-giả: Nguyễn Mạnh An Dân
Nhà xuất-bản: Làng Văn
Số trang: 228
Nguyên giá: 11 mỹ-kim
Giá đặc biệt nhân dịp khai-trương Thư-quán Làng Văn Online: 5.5 mỹ-kim
Xin xem ở mục "KHAI TRƯƠNG, GIÁ ĐẶC BIỆT, BỚT TỪ 30% ĐẾN 80%"
ở Website: www.langvan.net
Back Next